Hình ảnh hoạt động

Liên kết website


Trang nhất » Tin Tức » Tổ sử

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

Sau khi tham dự lớp tập huấn “Ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học” do Sở GD & ĐT tổ chức trong đó có nội dung sử dụng Bản đồ điện tử góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử và địa lý trong nhà trường. Thực hiện sự chỉ đạo của sở GD & ĐT, của trường Tổ Sử Địa đã triển khai tập huấn việc thiết kế Bản đồ điện tử trong dạy học cho 100% giáo viên trong tổ

        SỞ GD & ĐT QUẢNG BÌNH
TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
 
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ
 TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
 
1. Đặt vấn đề
Sau khi tham dự lớp tập huấn “Ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học” do Sở GD & ĐT tổ chức trong đó có nội dung sử dụng Bản đồ điện tử góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử và địa lý trong nhà trường. Thực hiện sự chỉ đạo của sở GD & ĐT, của trường Tổ Sử Địa đã triển khai tập huấn việc thiết kế Bản đồ điện tử trong dạy học cho 100% giáo viên trong tổ
2. Cơ sở lí luận và thực tiễn
     2.1 Cơ sở lý luận
    Xu thế ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin vào dạy học lịch sử trong giai đoạn hiện nay.
     Khoa học công nghệ (KHCN), đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang tác động mạnh mẽ làm thay đổi cơ bản các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Với những đặc tính ưu thế vượt trội, CNTT đã góp phần quan trọng trong nâng cao chất lượng dạy học . Xu hướng dạy học hiện đại, ứng dụng những thành tựu của KHCN đặc biệt là CNTT đang trở thành xu thế tất yếu hiện nay. Các nước tiên tiến trên thế giới đã có những ứng dụng CNTT vào lĩnh vực giáo dục và thu được nhiều thành tựu to lớn. Đó chính là cơ sở để Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) dự đoán: Với tác động của CNTT sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI ( Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2008), Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội. Tr 464 )
  Nắm bắt được xu thế phát triển chung của thế giới Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm ứng dụng CNTT vào nhiều lĩnh vực để phát triển kinh tế xã hội , trong đó có giáo dục và đào tạo. Sự quan tâm đó được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết: Chỉ thị (CTTW) của Bộ Chính trị 17/10/2002, chỉ thị 29/2001/CT – BGD&ĐT 30/07/2001 về việc tăng cường chỉ đạo ứng dụng CNTT vào dạy học giai đoạn 2001 – 2005 …vvv. Quốc hội khóa X nước CHXHCN Việt Nam ban hành Nghị Quyết 40/2000/QH10 về đổi mới cách dạy, cách học, cách quản lý đối với giáo dục và đào tạo. Trên tinh thần đó, báo cáo số 1534/CP- KG (14/10/2004) Chính phủ nhấn mạnh: Tập trung đổi mới một cách mạnh mẽ phương pháp dạy và học, từ năm học 2004 – 2005 triển khai đề án ứng dụng CNTT trong giảng dạy, học tập, và quản lý ở trường học, coi đây là khâu đột phá để đổi mới cách dạy, cách học và cách quản lý giáo dục.
 
       Vai trò, vị trí của việc xây dựng bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Trong DHLS, nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học. Do đặc thù của môn học, đối tượng nhận thức không có trước mắt mà đã lùi vào trong quá khứ, HS không thể trực tiếp tri giác đối tượng nghiên cứu như các môn học khác. Vì thế trong DHLS, yếu tố đầu tiên là phải tạo biểu tượng LS cho HS. Biểu tượng LS càng cụ thể, chân thực, sống động  bao nhiêu thì càng giúp cho quá trình nhận thức lịch sử càng chính bấy nhiêu. Trong các phương pháp dạy học lịch sử thì phương pháp sử dụng  ĐDTQ có ưu thế lớn nhất để tạo biểu tượng LS.
Trước đây, khi các thiết bị  CNTT còn hiếm hoi, trình độ sử dụng CNTT của giáo viên còn yếu. Trong dạy học LS chủ yếu sử dụng BĐ trong SGK hoặc BĐ treo tường. Cũng có lúc là những BĐ do thầy trò tự vẽ nên tính trực quan còn nhiều hạn chế. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, ở các trường học đã trang bị hệ thống máy chiếu, phòng chức năng và phong trào dạy học ứng dụng CNTT được phát động rộng rãi trong toàn ngành giáo dục. Dạy học ứng dụng CNTT, trở thành một trong những tiêu chí quan trọng, để đánh giá sự đổi mới về phương pháp dạy học. BĐGKĐT ngoài những đặc trưng tính chất của BĐGK nói chung còn mang những tính chất, đặc trưng riêng. Trong đó yếu tố “điện tử”, đã biến BĐGK từ trạng thái “tĩnh” sang trạng thái “động”. Chính điều này giúp cho BĐGKĐT  khẳng định ưu thế vượt trội của mình so với các loại ĐDTQ khác trong việc trình bày diễn biến của các cuộc chiến tranh, các cuộc cách mạng, các chiến dịch, các trận đánh, các cuộc hành trình như phát kiến địa lý, việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng các đế quốc…vvv. Trên cơ sở đó việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT càng trở nên cấp thiết, và đóng vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử hiện nay.
    * Ý nghĩa của việc xây dựng bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
    Với vai trò, vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử như đã nêu trên, BĐGKĐT có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao bài học lịch sử ở trường PT trên cả ba phương diện. Giáo dục, giáo dưỡng, phát triển
     Về mặt giáo dục: BĐGKĐT với tính trực quan cao, dung lượng kiến thức lớn nên góp phần quan trọng tạo biểu tượng LS một cách chân thực và sống động nhất, đặc biệt trong việc tạo biểu tượng một chiến dịch, một trận đánh, một cuộc chiến tranh...tránh tình trạng hiện đại hóa lịch sử. Đó chính nền tảng vững chắc để cho HS nắm được những kiến thức cơ bản, điển hình, mang tính khái quát cao để từ đó hình thành khái niệm, nắm được quy luật LS sử rút bài học kinh nghiệm cho bản thân. Vì vậy BĐGKĐT được xem như “cuốn SGK thứ hai” trong dạy học LS ở trường PT. Ví dụ, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1858 đến 1884, khi tạo biểu tượng về diễn biến chiến sự ở Đà Nẵng từ tháng 9/1858 đến tháng 2/1859, chúng ta sử dụng BĐGKĐT thể hiện vị trí địa lý của Đà Nẵng. Trên nền địa lý của Đà Nẵng ta tạo hiệu ứng thể hiện các đợt tấn công của liên quân Pháp- Tây ban nha, và hiệu ứng thể hiện quân và dân ta anh dũng chống trả quân xâm lược, đẩy lui nhiều đợt tấn công chúng, hình thành thế trận bao vây quân xâm lược. Hiệu ứng thể hiện đường hành quân của Đốc học Phạm Văn Nghị cùng với chân dung của ông thể hiện khí thế đánh giặc của cả nước.....Từ đó hình thành cho HS một cách cụ thể, rõ nét biểu tượng về diễn biến chiến sự ở Đà Nẵng ........Hay khi tạo biểu tượng về sự chênh lệch về vũ khí, trang bị trên BĐGKĐT chúng ta liên kết tranh ảnh các loại vũ khí hiện đại của thực dân Pháp như tàu chiến bằng kim loại, súng đại bác sức công phá lớn, các loại súng có tầm bắn xa độ chính xác cao, nòng súng có rãnh xoắn….cùng với đó  là những vũ khí lạc hậu của nhà Nguyễn độ sát thương kém, tầm bắn gần như; đại bác thần công bắn đạn đặc không có bộ phận nổ ở đầu đạn, các loại súng chủ yếu súng kíp, cung tên giáo mác…
      Cùng với tạo biểu tượng cụ thể, sinh động BĐGKĐT với tính năng liên kết cao, HS được làm việc với nhiều nguồn kiến thức khác nhau từ phim ảnh lịch sử, đồ dung trực quan quy ước, tài liệu thành văn….giúp cho HS có thể nhìn nhận, đánh giá các sự kiện nhân vật LS dưới nhiều góc độ khác nhau….giúp HS am hiểu tri thức lịch sử vừa “rộng”  vừa “sâu”. Từ đó giúp các em hiểu được bản chất, những mối liên hệ bên trong của từng sự kiện, hiên tượng. Nói cách khác, đây là phương tiện trực quan điện tử hiệu quả góp phần hình thành các khái niệm LS quan trọng, giúp HS nắm vững quy luật của sự phát triển xã hội.
     Không những có ý nghĩa quan trọng  trong tạo biểu tượng LS, BĐGKĐT với những đặc tính riêng, giúp cho việc phối cảnh trong trình bày BĐ  đẹp “bắt mắt” hơn các loại BĐ truyền thống . Yếu tố đa phương tiện với sự liên kết âm thanh, phim ảnh, đồ dùng trực quan quy ước..….làm cho bài giảng hấp dẫn gây sự lôi cuốn tạo hứng thú cho HS. Chính điều này giúp HS không những “hiểu sâu” mà còn “nhớ lâu” kiến thức lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã khẳng định, “nếu cứ áp dụng PPDH  thầy đọc, trò chép thì 90% tri thức của HS được tiếp nhận qua tai, 10% qua mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, giảm sự chú ý, nhưng nếu các em vừa được nghe, vừa được nhìn thông qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động (cùng một lúc có nhiều giác quan) thì kết quả ghi nhớ kiến thức của HS đạt hơn 90%” [. Phan Ngọc Liên (2003). LS và giáo dục LS, Nxb Chính trị Quốc gia, HN.; tr.455].
    Về mặt giáo dưỡng: BĐGKĐT trong DHLS thể hiện hoàn cảnh tự nhiên và xã hội xảy ra sự kiện, giúp HS hình thành biểu tượng về không gian (ở đâu?) và thời gian (khi nào?) xảy ra sự kiện LS một cách cụ thể rõ nét. BĐGKĐT trong DHLS góp phần tích cực hình thành quan niệm duy vật về LS, về sự tác động trở lại của môi trường địa lý tới lịch sử loài người. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng: “hoàn cảnh địa lí không phải là động lực chủ yếu, quyết định sự phát triển của xã hội loài người, song nó cũng có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển ấy, đẩy mạnh hay kéo dài, làm ngưng trệ quá trình phát triển LS của một nước trong một thời gian nhất định. Dĩ nhiên, mức độ và tính chất ảnh hưởng này cũng có tính LS, nghĩa là tác động của hoàn cảnh địa lí cũng thông qua hoạt động của con người ở những giai đoạn LS khác nhau. Khi con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên thì tác động ấy lớn. Khi con người chế ngự, cải tạo dần điều kiện tự nhiên thì ảnh hưởng bị hạn chế” [Lâm Quang Dốc (1997), Bản đồ giáo khoa – Sách dùng cho sinh viên khoa Lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. tr.40-41]. Điều này lý giải vì sao thời cổ đại, kinh tế các nước Phương Đông phát triển theo hướng lấy nền kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo. Trong khi đó ở các nước Phương Tây, kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp chiếm vị trí chủ đạo. Đặc biệt trên lĩnh vực quân sự, nơi diễn ra các trận đánh, nơi đóng quân..... bao giờ cũng gắn với một địa danh có vị trí chiến lược quan trọng. Liên quân Pháp và Tây Ban Nha chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công vì ở đây có những điều kiện thuận lợi như; cảng nước sâu thuận lợi cho tàu đổ bộ, cách kinh thành Huế khoảng 100 km về phía Nam có thể dung làm bàn đạp tấn công vào Huế,  chiếm được Đà Nẵng chúng thực hiện chia cắt liên lạc của triều đình Huế và các tỉnh phía Nam, nơi cơ sở đạo Thiên Chúa phát triển mạnh nhất. Không phải ngẩu nhiên mà Nguyễn Ái Quốc chọn Phương Tây là nơi tìm đường cứu nước……
    BĐGKĐT đóng vai trò quan trọng trong giáo dục tình yêu quê hương đất nước, kính yêu lãnh tụ, những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, yêu nhân dân lao động. Ví dụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngay từ khi chúng đặt chân đến Đà Nẵng ngoài sự chống trả của quân đội triều đình, HS sẽ thấy một lực lượng vô cùng hùng hậu đánh giặc bằng mọi cách sáng tạo, anh dũng mà không chờ đến mệnh lệnh Triều đình như; nhân dân Đà Nẵng đã anh dũng chiến đấu phối hợp với quân Triều đình đánh lui các đợt tấn công của chúng, thực hiện “vườn không nhà trống” , tổ chức thành đội ngũ chủ động tìm địch mà đánh. Từ Nam Định, Đốc học Phạm Văn Nghị tự chiêu mộ 300 người, chủ yếu là học trò lên đường vào Nam xin Vua ra chiến trường chiến đấu..Thực dân Pháp phải thừa nhận “dân quân gồm tất cả những ai không đau ốm và không tàn tật”.(SGK Lịch sử lớp 11tr109)  Từ đó hình thành cho HS tinh thần sẳn sàng xã thân khi tổ quốc lâm nguy, kính trọng và nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Thấy được sự chọn lựa cân nhắc kĩ càng có cơ sở khoa học thuyết phục của Nguyễn Ái Quốc khi chọn Phương Tây làm điểm đến trong hành trình tìm đường cứu nước. Hành trình gian khổ đi qua nhiều nước từ châu Á sang châu Phi, châu Mĩ đến châu Âu qua quá trình lăn lộn vừa lao động kiếm sống vừa tìm đường cứu nước tiếp xúc với  các tầng lớp nhân dân lao động giúp người hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc….từ đó hình thành ở các em lòng kính yêu Bác Hồ và tin tưởng vào con đường mà Bác, Đảng cùng nhân dân ta đã chọn lựa, tin tưởng vào sự lảnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do người sáng lập và rèn luyện, tin tưởng vào mục tiêu XHCN
     Thông qua quy trình xây dựng  BĐGKĐT hình thành ở các em thái độ làm việc cần mẫn, tỉ mĩ, khoa học. Bên cạnh đó góp phần bồi dưỡng, giáo dục óc thẫm mĩ cho các em
     Về mặt phát triển (kĩ năng):  BĐGKĐT có ưu thế trong việc rèn luyện kĩ năng cho HS, trước hết là kĩ năng làm việc với BĐ. Theo Ghêraximốp: “Khi BĐ là đối tượng học tập thì kiến thức, kĩ năng BĐ là mục đích. Khi BĐ là nguồn tri thức thì kiến thức và kĩ năng BĐ trở thành phương tiện khai thác kiến thức trên BĐ”  (Bùi Thị Khánh Ly(2012) , Sử dụng bản đồ diện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954, lớp 12 trường THPT (CTC), Luận văn thạc sĩ sư phạm lịch sử, Đại học quốc gia Hà Nội tr 24); PGS.TS Trịnh Đình Tùng đã khẳng định: “Đồ dung trực quan nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe – mắt thấy, tạo điều kiện cho HS dễ hiểu, nhớ lâu, gây được những mối dây liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở HS năng lực chú ý, quan sát, hứng thú” (Bùi Thị Khánh Ly(2012) , Sử dụng bản đồ diện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học LSVN giai đoạn 1945 – 1954, lớp 12 trường THPT (CTC), Luận văn thạc sĩ sư phạm lịch sử, Đại học quốc gia Hà Nội tr 24) . Xây dựng BĐGKĐT trong dạy học LS có ý nghĩa to lớn trong việc rèn luyện kĩ năng vẽ BĐ, kĩ năng đọc BĐ, kĩ năng phối hợp BĐGKĐT với các với các nguồn tài liệu khác trong quá trình học tập LS của HS
    Từ ý nghĩa trên, chúng tôi khẳng định rằng, xây dựng  BĐGKĐT trong dạy học LS ở trường PT đáp ứng toàn diện mục tiêu giáo dục bộ môn.
    2.2 Cơ sở thực tiễn:
Để có những nhận xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học về nhận thức và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong DHLS ở trường THPT, chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 5 GV dạy bộ môn LS và 500 HS lớp 11 ở  trường. Điều tra thực tế để nắm rõ tình hình xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong DHLS

        Kết quả điều tra

Đối với GV, từ kết quả điều tra GV
Khi hỏi quan niệm của GV về BĐGKĐT dùng trong DHLS ở trường PT thì phần lớn GV đều có nhận thức đúng về các tính chất đặc trưng của BĐGKĐT là tính số hóa, tính chương trình hóa, tính đa phương tiện, đa truyền thông và tính tương tác. Có 4/5 (80%) GV cho rằng BĐGKĐT là bản đồ có các kí hiệu hoạt hình động kết hợp hình ảnh, phim,… để tạo nên yếu tố trực quan sinh động và đây cũng là thế mạnh của việc ứng dụng CNTT trong DHLS ở trường PT hiện nay.
Việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong DHLS ở trường PT đều được hầu hết GV nhận thức là cần thiết 5/5 (100%).
Khi hỏi về ý nghĩa của việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong DHLS thì có 4/5 GV nhấn mạnh đến yếu tố trực quan giúp HS lĩnh hội kiến thức LS dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chỉ có 1/5 GV thấy được ý nghĩa giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho HS của BĐGKĐT trong DHLS, còn phần lớn thì không.
Nguyên nhân vì sao GV ít sử dụng BGĐT thường xuyên nói chung, BĐGKĐT trong DHLS nói riêng thì theo kết quả điều tra có 4/5 GV không nắm được kỹ thuật thiết kế .
Đối với HS, từ kết quả điều tra 500 hs
Khi hỏi quan niệm của HS về bộ môn LS ở trường PT thì có 70,5% HS cho rằng đây là môn học bổ ích, cần thiết đối với sự phát triển nhân cách của người học. Điều này cho thấy phần lớn HS có nhận thức đúng về bộ môn LS ở trường PT hiện nay. Trong khi đó, có 7,4% HS cho đây là môn học nhàm chán, 2,6% HS cho là môn học phụ nên ít quan tâm, còn lại 19,5% HS không có ý kiến.
Khi hỏi về loại BĐGK mà GV thường sử dụng trong DHLS thì có đến 46,8% HS cho rằng GV hầu như không sử dụng BĐGK nào. Trong khi đó, có 36,5% HS cho thấy GV có sử dụng bản đồ trong SGK, có 12,8% HS cho thấy GV sử dụng BĐGK treo tường.
Khi hỏi về ý nghĩa của việc sử dụng BĐGK trong DHLS ở trường PT thì có 68,4% HS cho rằng nó giúp người học ghi nhớ sự kiện LS dễ dàng hơn, có 55,2% HS cho rằng nó góp phần rèn luyện kĩ năng đọc, khai thác bản đồ của người học, có 51,7% HS cho rằng nó góp phần gây hứng thú học tập LS cho người học, có 50,2% HS cho rằng nó giúp người học hiểu sâu sắc hơn về sự kiện LS. Tuy nhiên, ý nghĩa giáo dục của BĐGK trong DHLS thì chỉ có 5,9% HS thấy được.
Khi hỏi về hình thức thể hiện BĐGK trong BGĐT của GV thì có 74,0% HS cho rằng chủ yếu là các bản đồ tĩnh, còn 26,0% HS cho thấy GV có sử dụng bản đồ động.
Khi hỏi tình hình GV sử dụng BĐGKĐT trong DHLS ở trường PT thì có đến 59,1% HS cho rằng GV không sử dụng, còn lại 38,5% HS cho thấy GV ít khi sử dụng BĐGKĐT trong DHLS.
Khi hỏi BĐGKĐT thường được GV sử dụng trong khâu nào của quá trình tiến hành bài học LS thì có đến 47,8% HS cho rằng GV không sử dụng, còn 39,4% HS cho thấy GV chủ yếu sử dụng BĐGKĐT trong khâu tìm hiểu kiến thức mới, số ít còn lại cho thấy GV có sử dụng BĐGKĐT trong khâu củng cố bài, kiểm tra bài cũ và hướng dẫn người học tự học ở nhà.
Khi hỏi cách thức GV sử dụng BĐGK trong BGĐT thì có 68,4% HS cho rằng GV chủ yếu minh họa diễn biến sự kiện LS đang học, có 40,5% HS cho thấy GV có tiến tới giải thích sự kiện LS đang học, còn lại số ít HS cho thấy GV có khai thác thêm những thông tin chưa được trình bày trong SGK, nêu vấn đề và phát triển các kĩ năng tư duy của người học.
Khi hỏi GV có hướng dẫn người học chủ động sử dụng BĐGK được chèn trên BGĐT thì có đến 60,6% HS cho rằng GV không hướng dẫn, còn lại 37,4% HS cho thấy GV ít khi hướng dẫn người học chủ động sử dụng BĐGKĐT.
Như vậy, qua điều tra và xử lí số liệu cho thấy, việc sử dụng BĐGKLS nói chung, BĐGKĐT trong DHLS nói riêng ở trường THPT đã được nhiều GV nhận thức đúng tầm quan trọng của nó, song thực hiện yêu cầu này trong thực tiễn dạy học hiệu quả vẫn chưa cao, chưa phát huy được tính tích cực học tập của HS. Do đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp, từng GV mà việc xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong DHLS chưa được tiến hành một cách thường xuyên, đầy đủ, với những phương pháp phù hợp để mang lại hiệu quả như mong muốn.
Khi điều tra, chúng tôi thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó nguyên nhân cơ bản thuộc về cả GV lẫn HS. Về phía GV chưa thật sự chú trọng sử dụng BĐGKLS, nhất là việc sử dụng BĐGKĐT trong DHLS, dẫn đến tình trạng “dạy chay” vẫn còn khá phổ biến. Về phía HS cũng chưa thực sự hứng thú học tập LS, đặc biệt chưa biết cách chủ động tiếp nhận kiến thức LS.

      3. Minh họa xây dựng một số bản đồ giáo khoa điện tử để dạy học lịch sử ở trường THPT (Hướng dẫn phần kỹ thuật)

Căn cứ vào quy trình xây dựng BĐGKĐT, chúng tôi chọn một số kiến thức cơ bản để tiến hành xây dựng một số bản đồ tiêu biểu.
 Ví dụ:  Lược đồ chiến sự ở Đà Nẵng 1858 - 1859

   Bước 1: Xác định nội dung kiến thức cơ bản cần xây dựng BĐGKĐT

       - Tạo biểu tượng vị trí địa lý của Đà Nẵng để lý giải nguyên nhân Pháp chọn Đà Nẵng làm điểm mở đầu tấn công xâm lược.
      - Diễn biến chiến sự ở Đà Nẵng từ 31/8/1858 đến tháng 2/1859
       Ở đây chúng tôi chọn nội dung kiến thức: Diễn biến chiến sự ở Đà Nẵng từ 1858 – 1859, để tiến hành xây dựng
     Bước 2: Coppy BĐ sau đây thành hai bản

 
      Bước thứ ba: Mở Microsoft office Powepont và Past BĐ lên rồi cân chỉnh cho phù hợp với Slide
 Bản đồ còn lại sử dụng phần mềm ACD See 5.0 hoặc các phần mềm khác như: Photoshop, drawing... ở đây chúng tôi sử dụng phần mềm Photoshop Cs2 để tiến hành xóa các nội dung kiến thức trên BĐ

      Bước thứ ba: Tiến hành xóa:

       - Sử dụng phàn mềm Photoshop Cs2 mở BĐ cần xóa, sử dụng tổ hợp phím Ctrl  + để phóng to BĐ

       - Tiếp theo sử dụng công cụ Eyedropper tool sau đó rê chuột vào vùng màu cần chọn để xóa các ký hiệu trên BĐ (màu chọn là cùng màu với nền BĐ, có sách gọi là tô màu theo hình nền) sau đó kích chuột trái để chọn màu. Xong kích chuột vào công cụ Brush tool, tiếp theo kích chuột phải ( hoặc kích chuột vào biểu tượng ▼trên hộp thoại Brush trên Menu bar để chọn giao diện và độ đậm nhạt khi xóa. Củng có thể sử dụng công cụ Clone Stamp tool trên thanh công cụ sau đó rê chuột vào vùng cần chọn (còn gọi là các Pixels) sau đó ấn phím Alt trên bàn phím đồng thời kích chuột trái để chọn các Pixels cùng màu nền tiếp theo đưa chuột đến vùng cần xóa và ấn chuột trái tiến hành xóa.
  Trong quá trình xóa có những phần cần cắt như: Các ký hiệu đặc biệt, hay cắt những BĐ phụ ( ở đây những BĐ phụ như: Chiến sự ở Đà Nẵng),ta dùng công cụ Lasso Tool để chọn vùng muốn cắt sau đó chọn công cụ Move Tool trên thanh công cụ tiến hành di chuyển hoặc Coppy vùng cần chọn sau đó mở vào File trên Menu bar chọn Save As sau đó chọn lưu vào ổ đia cần lưu. Kết quả ta có được BĐ trống như sau:
 

       Bước thứ tư:
       Coppy BĐ đã xóa và dán vào Slide tiếp theo ngay sát BĐ chưa xóa trên Power Pont. Tiếp theo Coppy BĐ chưa xóa (chúng tôi gọi là BĐ thứ nhất) chồng khít lên BĐ đã xóa (chúng tôi gọi là BĐ thứ hai) cân chỉnh sao cho hai BĐ trùng khớp với nhau, bắt đầu thiết kế lại tất cả các nội dung đã xóa lên trên BĐ thứ nhất. Sau đó chọn Delete xóa BĐ thứ nhất, tất cả các nội dung chúng ta vừa thiết kế sẽ nằm trên BĐ thứ hai với vị trí tương ứng như khi chưa xóa. (trường hợp không có BĐ mẫu ta chọn những ký hiệu phản ánh nội dung kiến thức cần xây dựng trên BĐ thiết kế theo nội dung SGK) 

CẨM LỆ
LIÊN TRÌ
THÀNH ĐIỆN HẢI
 CHÚ GIẢI
VỊNH ĐÀ NẴNG
Text Box: SÔNG HÀN
CHIẾN TRƯỜNG ĐÀ NẴNG 1858
TỈ LỆ: 1:1.200.000
Text Box: SÔNG CẨM LỆ
     THÀNH
    ĐÀ NẴNG
BÁN ĐẢO SƠN TRÀ


TÀU CHIẾN LIÊN QUÂN
  PHÒNG THUYẾN
QUÂN TRIỀU ĐÌNH
  

      LIÊN QUÂN PHÁP
TÂY BAN NHA TẤN CÔNG
CHƯỚNG NGẠI VẬT QUÂN TA
                                                                                                 

      QUÂN PHÁP
 RÚT KHỎI ĐÀ NẴNG
QUÂN TRIỀU ĐÌNH
 CHẶN ĐÁNH ĐỊCH
                                                                                                   
 
 

       Bước thứ năm: Tạo hiệu ứng cho nội dung vừa thiết kế để các nội dung xuất hiện theo trình tự thời gian đúng như diễn biến trong SGK bằng lệnh Slide show chọn Custom Amination. Chèn âm thanh, phim ảnh, các nguồn tại liệu khác bằng lệnh Insert hoặc Hyperlink để chèn hình ảnh,
      Bước thứ sáu: Mở BĐ thứ hai vừa thiết kế bấm vào Slide show trên thanh công cụ  chọn View show hoặc nhấn phím F5 trên bàn phím để trình, tiến hành chỉnh sửa nếu cần thiết sau đó lưu vào file máy tính hoặc USB, CD Rom để sử dụng. Dựa vào quy trình trên, chúng ta lần lượt thiết kê những BĐ tiếp theo.
 
KẾT LUẬN
 Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đặc biệt là CNTT, điện tử hóa, kỹ thuật số hóa đang diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa hiện nay đòi hỏi mỗi một cá nhân phải có sự thích ứng cao để sẵn sàng hội nhập và phát triển. Để làm được điều đó GD&ĐT phải giữ vai trò vị trí tiên phong, vì vậy đổi mới PPDH ứng dụng CNTT trong lĩnh vực GD&ĐT càng trở nên cấp thiết và trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình hiện đại hóa GD&ĐT. Với đặc trưng của bộ môn LS cùng với quan niệm của  xã hội và cơ chế thị trường, trong xu thế hội nhập “ toàn cầu hóa” hiện nay đang đặt ra những thách thức lớn cho GV giảng dạy môn LS trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Đáp ứng mục tiêu dạy học LS, đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc đổi mới hiện đại hóa đất nước. Vì vậy xây dựng và sử dụng BĐGKĐT với sự ứng dụng các phần mềm hiện đại trong DHLS là hướng đi đúng phù hợp với mục tiêu  của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là đổi mới một cách “toàn diện và căn bản” GD&ĐT, theo hướng tích cực ứng dụng CNTT vào giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục. Thực tế cho thấy rằng; BĐGKĐT không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường PT mà còn giúp HS học tập LS hứng thú hơn, say mê hơn.
       Cần có quan niệm đúng về vai trò vị trí của BĐGKĐT trong DHLS. Sử dụng BĐGKĐT qua thực nghiệm sư phạm đã kiểm chứng được tính hiệu quả và tính khả thi trong DHLS ở trường PT, tuy nhiên BĐGKĐT cũng như các ĐDTQ khác, không có phương pháp, phương tiện nào là vạn năng, có thể thay thế hết tất cả các phương tiện, phương pháp khác. Trong DHLS cũng như các môn học khác ở trường PT, không thể “lấy máy thay người”. Vì thế, để BĐGKĐT phát huy hết tính năng hiệu quả trong DHLS, đòi hỏi GV không những có kiến thức chuyên môn đảm bảo mà còn vững vàng về nghiệp vụ sư phạm, kết hợp nhuần nhuyễn BĐGKĐT với các phương pháp phương tiện dạy học khác.
      Xây dựng và sử dụng BĐGKĐT trong DHLS là việc không khó, tuy nhiên để làm được điều này ngoài việc nắm vững yêu cầu, quy trình xây dựng cũng như các biện pháp sử dụng mà luận văn đã trình bày, đòi hỏi sự khéo léo, khiên trì, tỉ mỉ vì tính kỹ thuật cao. Do đó đòi hỏi GV phải có niềm đam mê nghề nghiệp, chịu khó đầu tư về thời gian, và không ngừng nâng cao trình độ về tin học, tích cực tìm kiếm và khai thác các phần mềm ứng dụng trên internet để góp phần nâng cao trình độ trong việc thiết kế và sử dụng BĐGKĐT.
    Quy trình kỹ thuật mà chuyên đề trình bày là cơ sở để GV tự tiến hành xây dựng và sử dụng hệ thống BĐGKĐT trong DHLS ở trường THPT, góp phần thiết thực vào quá trình đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
 

20-11

Video hoạt động

TRUY CẬP EMAIL

Email Bộ Giáo dục và Đào tạo

Email Sở GD & ĐT Quảng Bình


Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 9


Hôm nayHôm nay : 249

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5013

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 304706

 

Cơ quan chủ Quản : Trường thpt Quang Trung Quảng Trạch 
Địa chỉ : thôn Tân Phú, xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Điện thoại: 0523.596502 – 0523.569520. 
Email: thpt_so3quangtrach@quangbinh.edu.vn .Designed by 
QBICT